Sốt xuất huyết: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Sốt xuất huyết: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Sốt xuất huyết dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF hay Sốt dengue (dengue fever, DF, đọc là đăng-gi) , tại Việt Nam thường được gọi chung là bệnh sốt xuất huyết, có biểu hiện nặng nhất của bệnh là hội chứng sốc dengue (dengue shock syndrome, DSS) được gây ra do Dengue virus (chi Flavivirus, họ Flaviviridae).

 

Sốt xuất huyết: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Sốt xuất huyết dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF hay Sốt dengue (dengue fever, DF, đọc là đăng-gi) , tại Việt Nam thường được gọi chung là bệnh sốt xuất huyết, có biểu hiện nặng nhất của bệnh là hội chứng sốc dengue (dengue shock syndrome, DSS) được gây ra do Dengue virus (chi Flavivirus, họ Flaviviridae).
Virus này có 4 chủng huyết thanh khác nhau là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Bệnh nhân nhiễm với chủng virus nào thì chỉ có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời với chủng virus đó mà thôi. Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch dengue có thể mắc bệnh sốt xuất huyết nhiều hơn một lần trong đời. Sốt dengue và sốt xuất huyết dengue chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiễm virus dengue gây nên triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng cá thể. Bệnh có thể chỉ biểu hiện nhưmột hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong . Trong bài này, thuật ngữ dengue được sử dụng để chỉ chung cho ba thể bệnh nêu trên. Khi nói đến từng thể riêng biệt thì tên chính xác của thể bệnh đó sẽ được sử dụng.
Có thể nói dengue là một bệnh do virus lây truyền do muỗi thường gặp nhất ở người. Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế. Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh. Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơ truyền bệnh (muỗi) và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều chủng huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới.
I. DỊCH TỄ HỌC:
Những trận dịch đầu tiên đã được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778-1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Sự xuất hiện gần như đồng thời của các trận dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như véc tơ truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới từ hơn 200 năm trước. Trong thời gian này dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ. Một vụ đại dịch dengue xuất hiện ở Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàn cầu. Cũng ở khu vực Đông Nam Á, dengue lần đầu tiên được phát hiện ở Philippines vào năm 1950 nhưng đến năm 1970 bệnh đã trở thành nguyên nhân nhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này .
II. XU HƯỚNG MẮC BỆNH:
Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Bệnh này hiện đã trở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch lưu hành. Con số này tăng lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh. Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm nhiều loại virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động. Sau đây là một vài con số thống kê khác :
http://suckhoe365.net/wp-content/themes/VN-News02/images/bullet.gif); background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; background-color: initial; line-height: 21px; background-position: 18px 8px; background-repeat: no-repeat no-repeat; “>Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là 40-50% nhưng cũng có thể cao đến 80-90%.
http://suckhoe365.net/wp-content/themes/VN-News02/images/bullet.gif); background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; background-color: initial; line-height: 21px; background-position: 18px 8px; background-repeat: no-repeat no-repeat; “>Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp sốt xuất huyết dengue cần nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em. Tỉ lệ tử vong trung bình vào khoảng 2,5%.
http://suckhoe365.net/wp-content/themes/VN-News02/images/bullet.gif); background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial; background-color: initial; line-height: 21px; background-position: 18px 8px; background-repeat: no-repeat no-repeat; “>Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của sốt xuất huyết dengue có thể vượt quá 20%. Với phương thức điều trị tích cực hiện đại, tỉ lệ tử vong có thể thấp hơn 1%.
III. NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT:
Người nhiễm virus dengue do muỗi cái thuộc chi Aedes đốt. Muỗi Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chủ yếu ở hầu hết các khu vực bệnh lưu hành. Muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày và chỉ có muỗi cái mới đốt người và truyền bệnh. Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm virus dengue, virus này sẽ ủ bệnh trong cơ thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày. Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người. Khi virus vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong máu từ 2 đến 7 ngày. Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì virus được truyền cho muỗi.
Người là ổchứa virus chính. Ngoài ra người ta mới phát hiện ởMalaysia có loài khỉsống ởcác khu rừng nhiệt đới cũng mang virus dengue. Aedes aegypti có nguồn gốc từchâu Phi. Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờtàu thuyền và sau đó có thểcảmáy bay nữa . Ngày nay có hai loài phụcủa Aedes aegypti là Aedes aegypti queenslandensis, một dạng hoang dã ởchâu Phi không phải là véc tơtruyền bệnh chính, và Aedes aegypti formosuslà muỗi sống ởkhu vực đô thịvùng nhiệt đới và là véc tơtruyền bệnh chính. Trong quá khứ, muỗi Aedes aegypti phải nhờvào các vũng nước mưa đểđẻtrứng. Tuy nhiên ngày nay quá trình đô thịhóa diễn ra với tốc độồạt đang cung cấp cho muỗi những hồnước nhân tạo đểmuỗi đẻtrứng dễdàng hơn nhiều.
Aedes albopictus trước đây là véc tơ truyền bệnh chính của dengue và hiện nay vẫn còn là véc tơ quan trọng ở châu Á. Loài muỗi này gần đây đã lan tràn đến khu vực Trung Mỹ, Hoa Kỳ và tại đây muỗi này là véc tơ truyền bệnh quan trọng thứ hai. Trong khi muỗi Aedes aegypti formosus chủ yếu sống ở khu vực đô thị thì muỗi Aedes albopictus lại cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn. Muỗi Aedes aegypti không truyền virus qua trứng, trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này.
IV. SINH LÝ CỦA BỆNH:
Nhiễm virus dengue thường không có biểu hiện rõ ràng. Sốt dengue cổ điển (thể nhẹ) chủ yếu xuất hiện ở người lần đầu mắc bệnh, chưa có miễn dịch. Sốt xuất huyết dengue/Hội chứng sốc dengue (thể nặng) thường xảy ra trong lần nhiễm trùng sau, khi bệnh nhân đã có sẵn miễn dịch chủ động (do đã bị bệnh) hoặc thụ động (do mẹ truyền sang) đối với một loại huyết thanh khác. Bệnh thường biểu hiện nặng đột ngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt). Các phức hợp kháng nguyên-kháng thể lưu hành trong máu, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể và giải phóng các chất hoạt mạch có thể gây nên tăng tính thấm mao mạch đối với huyết tương, xuất huyết và có thể là đông máu nội mạch lan tỏa. Trong quá trình đào thải miễn dịch của các tế bào nhiễm virus, các protease và lymphokine được phóng thích gây hoạt hóa hệ thống bổ thể cũng như các yếu tố tăng tính thấm thành mạch.
Miễn dịch tăng cường bệnh: Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thiết rằng “thể nặng của bệnh là sốt xuất huyết dengue/hội chứng sốc dengue xảy ra khi một người đã nhiễm bệnh trong quá khứ bởi một loại huyết thanh virus nay lại nhiễm một loại huyết thanh virus khác”. Giả thiết này được củng cố bởi các ghi nhận lâm sàng rằng sốt xuất huyết dengue gặp chủ yếu ở những người đã ít nhất một lần mắc bệnh trước đó và sốt xuất huyết dengue xảy ra thường xuyên hơn ở các cư dân trong vùng dịch lưu hành hơn là các du khách mắc bệnh tại nơi này trong cùng thời điểm. Nếu giả thiết này là đúng hoàn toàn thì việc lưu chuyển các loại huyết thanh virus khác nhau từ vùng này đến vùng khác trên thế giới sẽ ngày càng gây nên tình trạng bệnh nặng nề hơn trong tương lai
Như vậy yếu tố nguy cơ gây bệnh nặng trong sốt xuất huyết dengue là người sẵn có kháng thể kháng lại một loại huyết thanh đã gây bệnh trước đó, chủng virus gây bệnh, trẻ nhỏ hơn 12 tuổi, phụ nữ và người Caucasian (da trắng).
V. TRIỆU CHỨNG VÀ CHUẨN ĐOÁN:
Triệu chứng
1. Thời kỳ ủ bệnh:
3 – 6 ngày, một số trường hợp có thể kéo dài đến 15 ngày.
2. Sốt dengue
Triệu chứng thường xuất hiện đột ngột với sốt cao, người mệt mỏi rũ rượi, nhức đầu, đau sau hốc mắt, đau cơ (đau thắt lưng và đôi khi đau chân), thường kèm theo đau họng, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng thượng vị và tiêu chảy.
Ở trẻ em, đau họng và đau bụng thường là những triệu chứng nổi trội. Hạ sốt xuất hiện vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 thường kèm biểu hiện xuất huyết nhẹ (chấm xuất huyết dưới da, nốt xuất huyết và chảy máu mũi). Sau khi hạ sốt thường xuất hiện ban dạng dát sẩn đa hình thái, đôi khi gây ngứa, đầu tiên ở thân mình và lan rộng theo hướng ly tâm đến các chi, mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một số trường hợp có thể bệnh có thể tiến triển đến xuất huyết tiêu hóa và sốc. Như vậy biểu hiện xuất huyết không chỉ sốt xuất huyết dengue mới có (6).
3. Sốt xuất huyết dengue
Giai đoạn sớm của bệnh không thể phân biệt được với sốt dengue. Tuy nhiên thường sau từ 2 đến 5 ngày, tức là vào giai đoạn hạ sốt, một số trường hợp nhiễm trùng đầu tiên và đa số các nhiễm trùng thứ phát sau khi đã nhiễm một loại huyết thanh khác có biểu hiện hạ tiểu cầu (< 100.000/mm³) và cô đặc máu. Thường thì giảm tiểu cầu xảy ra trước cô đặc máu. Biểu hiện xuất huyết có thể xảy ra hoặc không. Các biểu hiện xuất huyết thường gặp trong sốt xuất huyết dengue gồm xuất huyết dưới da tự phát hoặc sau tiêm chích, chảy máu chân răng, chảy máu mũi và xuất huyết tiêu hóa. Lá lách thường không lớn. Nếu gan lớn và đau thì đây là những dấu hiệu bệnh nặng. Các biểu hiện khác có thể gồm tràn dịch màng phổi, giảm protein máu, bệnh lý não với dịch não tủy bình thường (6).
Tính thấm mao mạch gia tăng, với hậu quả thoát huyết tương ra ngoài khoang dịch kẽ với lượng lớn, là nguyên nhân của tình trạng cô đặc máu. Khi bệnh nhân có đồng thời hai dấu hiệu giảm tiểu cầu và cô đặc máu thì được chẩn đoán là sốt xuất huyết dengue và được phân loại theo WHO (6):
Độ I: giảm tiểu cầu kèm cô đặc máu nhưng không có chảy máu tự phát.
Độ II: giảm tiểu cầu và cô đặc máu kèm theo chảy máu tự phát.
Độ III: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, huyết động không ổn định: mạch lăn tăn, huyết áp kẹp (hiệu số huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương < 20 mm Hg), tay chân lạnh, tinh thần lú lẫn.
Độ IV: giảm tiểu cầu và cô đặc máu, sốc biểu hiện rõ: bệnh nhân không có mạch ngoại biên, huyết áp = 0 mm Hg.
Nếu được điều trị thoát sốc thì bệnh nhân lành bệnh nhanh chóng và rất hiếm có di chứng (6).
Chẩn đoán
Chẩn đoán nguyên nhân là cực kỳ quan trọng và cần thiết nếu xét trên phương diện sức khỏe cộng đồng nhưng lại có vẻ là không cần thiết cho việc thiết lập một chế độ điều trị hỗ trợ sớm cho bệnh nhân. Chẩn đoán dengue thường dựa vào các yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng như trình bày ở trên cũng như dựa vào các xét nghiệm đơn giản: số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu và hematocrit.
Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi: dengue xuất huyết thường có giảm bạch cầu. Trường hợp tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính thường là cơ sở để loại trừ dengue xuất huyết.
Giảm tiểu cầu (< 100.000/mm³): cần làm số lượng tiểu cầu ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ sốt xuất huyết dengue. Tiểu cầu càng giảm, nguy cơ xuất huyết càng cao.
Hematocrit: khi giá trị hematocrit tăng trên 20% so với trị số bình thường trước đó thì bệnh nhân được coi là có cô đặc máu. Đây là một tiêu chuẩn chẩn đoán sốt xuất huyết dengue. Nếu không biết được giá trị hematocrit bình thường của bệnh nhân thì có thể xem giá trị > 45% là mốc chẩn đoán (6).
Một số xét nghiệm khác nhằm đánh giá mức độ bệnh: điện giải đồ, khí máu, chức năng đông máu, men gan, X quang phổi nhằm phát hiện biến chứng tràn dịch màng phổi (4).
Chẩn đoán nguyên nhân: có thể thể hiện mầm bệnh trong máu và huyết thanh bằng phương pháp phân lập virus, xác định kháng nguyên virus bằng các phương pháp miễn dịch hoặc phát hiện bộ gene của virus bằng kỹ thuật khuyếch đại chuỗi DNA (PCR).
Chẩn đoán huyết thanh học thông qua phương pháp xác định IgM bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gắn kết enzyme (MAC-ELISA) ở hai mẫu máu bệnh nhân lấy cách nhau 14 ngày. Mẫu máu thứ nhất lấy trước ngày thứ 7 của bệnh cũng có thể có ích trong việc phân lập virus bằng cách cấy vào tế bào của muỗi Aedes albopictus. Sau đó, việc định danh vi khuẩn có thể thực hiện nhờ xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang sử dụng kháng thể đơn dòng.
Ở bệnh nhân tử vong, chẩn đoán có thể thực hiện bằng phương pháp phân lập virus hoặc xác định kháng nguyên virus (phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp) từ hai mẫu bệnh phẩm (gan, lách, hạch bạch huyết, tuyến ức).
VI. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT:
Nguyên tắc chung
Vấn đề mất nước trong sốt xuất huyết dengue: không phải sốt xuất huyết dengue gây mất nước. Đây là sự nhầm lẫn khá lâu dài. Bệnh dù nặng dù nhẹ vẫn không có mất nước trên lâm sàng. Cân nặng không giảm, da không khô, một số tế bào nội tạng thừa nước thấy được trên siêu âm. Thường và đa số bệnh nhân sốt xuất huyết dengue là đủ và thừa nước, đã đủ nước ngay lúc mới bắt đầu truyền dịch cấp cứu. Vì sao phải truyền dịch cấp cứu sốc dengue: vì bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn máu. Tại sao bị giảm thể tích tuần hoàn máu, giảm khoảng 20 đến 30% thế tích: vì albumin trong máu thoát quản ra khỏi lòng mạch. Nước bình thường ra vào giữa lòng mạch với các mô và tế bào, nay không trở vào lòng mạch cho đủ nhu cầu, bởi một số lớn albumin hiện diện ngoài lòng mạch. Có thể nói bệnh siêu vi dengue gây thoát quản huyết tương, không phải là bệnh mất nước. Đây là điểm mấu chốt, quan trọng để sớm thay đổi tư duy điều trị.
Phân cấp điều trị bệnh nhân
Sau đây là những gợi ý về phân cấp bệnh nhân theo tuyến điều trị trong trường hợp có dịch với lượng bênh nhân tăng cao trong cùng thời điểm. Xin lưu ý đây chỉ là những gợi ý và tuyệt đối không phải là phác đồ điều trị nên không thể áp dụng cho mọi trường hợp (6).
Tiêu chuẩn điều trị tại nhà:
Tất cả những bệnh nhân Sốt dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh mạch.
Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống.
Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảy máu quan trọng.
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn (12 – 24 giờ):
Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch.
Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống.
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn.
Tất cả bệnh nhân độ III.
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài (> 24 giờ):
Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứng điều trị bù dịch.
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thành bệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…).
Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng.
Tất cả bệnh nhân Độ IV.
Dự phòng
Vắc xin
Lý tưởng nhất là có một vắc xin có thể chống lại cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh. Đáng tiếc là một loại huyết thanh như vậy hiện nay vẫn chưa có sẵn. Tuy nhiên đã có một nghiên cứu tại Đại học Mahidol (Thái Lan) với sự cộng tác của WHO, một vắc xin chống cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh đang được phát triển và hoàn thiện. Vắc xin này tỏ ra an toàn và hiện đang được đưa vào dùng thử nghiệm trên lâm sàng (5). Hiện nay vắc xin chống sốt xuất huyết cả 4 chủng huyết thanh của Dengue virus đang ở pha 2 thử nghiệm lâm sàng.
Kiểm soát véc tơ truyền bệnh
Hiện tại, kiểm soát véc tơ truyền bệnh được xem là phương pháp phòng bệnh duy nhất có hiệu quả (3). Kiểm soát các véc tơ Aedes có thể làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh dengue. Trong những năm 1950 đến 1960 Tổ chức Y tế Toàn châu Mỹ (Pan American Health Organization) đã thành công trong việc diệt sạch Aedes aegypti ở nhiều vùng thuộc Trung và Nam Mỹ, và trong thời gian này các vụ dịch dengue rất hiếm ở châu Mỹ. Tuy nhiên sau khi chương trình ngừng lại thì Aedes aegypti và sau đó là dengue tái xuất hiện.
Phương pháp chính để kiểm soát số luợng muỗi Aedes là giảm thiểu các khu vực có nước đọng, là nơi đẻ trứng của muỗi. Đậy kín các dụng cụ chứa nước, giảm tối đa các vật dụng có thể chứa nước mưa (lốp xe cũ, chén bát cũ…), hay nước sạch như bình bông, bàn cầu trong các phòng trống không có người ở, hầm nước ở các chung cư . Có thể dùng các loại sinh vật trong nước tiêu diệt trứng của muỗi. Khi có dịch thì đôi khi phải cần đến phun thuốc diệt muỗi trên diện rộng.
Cũng giống như tất cả các bệnh lây truyền do arbovirus khác, các phương pháp bảo hộ cá nhân như mang tất, vớ dài, dùng thuốc xua muỗi, tránh nhưng nơi có mật độ véc tơ truyền bệnh cao có tác dụng tốt nhất. Một điểm đặc biệt là muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày nên có biện pháp phòng tránh khác so với các loại muỗi chỉ hoạt động ban đêm như Anophele và Culex.

Phá thai 3 tháng đầu bằng thuốc (Mifepristone và Misoprostol)

Phá thai 3 tháng đầu bằng thuốc (Mifepristone và Misoprostol)

 
Ảnh chỉ mang tính chất minh hoạ.

Khoa KHHGĐ
BV Từ Dũ

Phá thai ba tháng đầu bằng thuốc được thực hiện cho ai?

Phương pháp này được thực hiện cho những phụ nữ:

– Có thai 7 tuần tuổi trở xuống (tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng).
– Muốn chấm dứt thai nghén.

Phương pháp này có an toàn và hiệu quả không ?

– Phá thai bằng thuốc là phương pháp sử dụng thuốc để chấm dứt thai nghén một cách an toàn và tin cậy.

– Phương pháp này an toàn khi người cung cấp dịch vụ là các cán bộ y tế đã được đào tạo và có đủ kỹ năng thực hiện phương pháp phá thai này.

– Phá thai bằng thuốc có hiệu quả tới 96-99%.

Phương pháp này diễn ra thế nào?

– Nhân viên y tế sẽ thực hiện khám khung chậu.

– Nhân viên y tế sẽ hỏi bạn một số câu hỏi về sức khoẻ của bạn, giải thích về quá trình phá thai và tư vấn cho bạn về các biện pháp tránh thai.

– Bạn cần ký vào một bản cam kết phá thai.

– Sau đó nhân viên y tế sẽ đưa cho bạn một viên thuốc tên Mifepristone (Mifestad®200) để uống tại cơ sở. Mifepristone (Mifestad®200) sẽ làm thai bạn ngừng phát triển.

 

– Có thể bạn sẽ cảm thấy vẫn bình thường sau khi uống viên thuốc này nhưng cũng có thể thấy ra máu âm đạo.

– Bạn sẽ về nhà sau khi uống viên thuốc này.

– Bạn sẽ uống loại thuốc tiếp theo là Misoprostol: uống 2 viên Misoprostol sau khi uống Mifepristone 2 ngày. Bạn có thể quay lại cơ sở y tế để uống Misoprostol.
 
– Thông thường trong vòng 30 phút đến 4 giờ sau khi uống Misoprostol, bạn sẽ đau bụng, ra máu nhiều và ra máu cục khi thai được tống ra ngoài.

– Phần lớn phụ nữ ra máu như hành kinh trong vòng 10 ngày kể từ khi uống thuốc, tuy nhiên một số ít phụ nữ có thể ra máu nhẹ kéo dài hơn 1 tháng.

Có tác dụng phụ khác không?

– Bạn có thể thấy buồn nôn, tiêu chảy hoặc nôn mửa trong quá trình sảy thai. Những triệu chứng này gây khó bạn nhưng không phải là vấn đề bất thường và sẽ qua đi trong thời gian ngắn, không cần điều trị đặc biệt gì.

– Bạn sẽ được kê đơn thuốc giảm đau, như Paracetamol hoặc Ibuprofen để giảm cơn đau bụng. 

– Bạn cũng có thể dùng chai nước nóng hoặc khăn ấm để chườm bụng.

– Bạn có thể thấy đau đầu và chóng mặt sau khi uống Misprostol. Hãy uống nhiều nước hoặc nước hoa quả – không uống cà phê hoặc rượu và uống thuốc giảm đau nếu cần thiết.

– Một số phụ nữ bị sốt trong vài giờ, đôi khi kèm theo ớn lạnh. Triệu chứng này sẽ nhanh chóng qua đi và không nguy hiểm.

Tôi phải làm gì khii thực hiện phương pháp này?

– Thay băng vệ sinh thường xuyên như trong kỳ kinh bình thường cho đến khi hết ra máu.

– Bạn có thể tắm bình thường.

– Bạn không cần ăn kiêng bất kỳ loại thức ăn nào.

Nếu phương pháp này thất bại thì sao?

– Thai nhi có thể bị khuyết tật nếu bào thai tiếp tục phát triển. Do đó, khi bạn đã dùng Mifepristone, bạn không thể giữ được thai nữa.

– Nếu phá thai bằng thuốc thất bại, cần tiến hành hút thai.

Có thể xảy ra tai biến không?

Phá thai ba tháng đầu bằng thuốc là thủ thuật an toàn hơn nhiều so với phương pháp nạo bằng thìa, tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ nhỏ các tai biến có thể xảy ra.

Những tai biến nào có thể xảy ra?

Rất hiếm khi khách hàng gặp tai biến và biến chứng như:

– Ra máu quá nhiều cần phải hút thai bằng phương pháp hút chân không.
– Nhiễm trùng cần dùng thuốc kháng sinh.
– Ra máu quá nhiều gây mệt mỏi hoặc chóng mặt, cần tiếp máu.

Khi nào tôi nên quay lại cơ sở y tế?

Nếu bạn thấy:

– Đau bụng liên tục sau giai đoạn ra máu ban đầu.

– Ra máu âm đạo quá nhiều(mỗi giờ thấm hết 2 băng vệ sinh dày trong 2 giờ liền).

– Sốt 380C trở lên và kéo dài trên một ngày sau khi uống Misoprostol.

– Không ra máu trong vòng 24 giờ sau khi uống thuốc Misoprostol.

(Chú ý: có thể ra máu kéo dài trong vài tuần nhưng phải giảm dần về lượng)

– Quay lại khám kiểm tra trong vòng 2 tuần để khẳng định đã sảy thai hoàn toàn. Lần tái khám này là vô cùng quan trọng.

Tôi phải làm gì để tránh có thai ngoài ý muốn?

Phương pháp phá thai bằng thuốc sẽ chấm dứt thai nghén lần này nhưng bạn có thể có thai trong vòng 2 tuần sau đó nếu có quan hệ tình dục và không dùng biện pháp tránh thai. Vì vậy, bạn cần sử dụng một biện pháp tránh thai hiện đại để tránh có thai ngoài ý muốn.

Những biện pháp tránh thai hiện tại nào là phổ biến?

Nhân viên y tế sẽ cung cấp thông tin, giúp bạn lựa chọn và hướng dẫn bạn cách sử dụng một biện pháp tránh thai phù hợp.

Đoán bệnh qua mùi vị lạ trong miệng

Đoán bệnh qua mùi vị lạ trong miệng

  •  

Một số mùi bất thường từ miệng có thể là dấu hiệu của một số căn bệnh nguy hiểm.

Mặc dù bạn thường xuyên vệ sinh răng miệng, nhưng đôi khi trong miệng lại xuất hiện những mùi vị bất thường. Điều đó có thể làm bạn rất khó chịu và thiếu tự tin trong giao tiếp. Và bạn hãy thận trọng hơn vì đó có thể là dấu hiệu của một số căn bệnh nguy hiểm.

Đắng miệng: Đây là một dấu hiệu rõ ràng nhất về hiệu quả hoạt động của gan và túi mật. Đặc biệt là sau những bữa tiệc trong các ngày nghỉ, ngày cuối tuần, và ăn nhiều thực phẩm gây mùi và nóng. Ngoài cảm giác khô và đắng miệng nếu bạn cảm thấy bồn chồn, lo lắng và tức ở phần gan và dạ dày thì cần phải nhanh chóng đi kiểm tra sức khỏe để tránh nguy cơ gây bệnh. Loại bỏ chế độ ăn nhiều dầu mỡ, quá cay hoặc quá mặn, đồ hộp và bỏ rượu vì rất có thể khiến gan bạn bị tổn thương.

Chua miệng: Có thể đây là dấu hiệu cảnh báo của bệnh viêm loét dạ dày.

Các triệu chứng trào ngược axit vào buổi sáng, chỉ số axit clohydric quá cao trong dạ dày dẫn tới dư thừa gây trào ngược, ợ nóng khiến chúng ta rất khó chịu. Nguyên nhân của chứng bệnh này có thể là do ăn quá nhiều, hệ tiêu hóa không tốt khiến thức ăn không được vận chuyển tới dạ dày và không được lên men. Một nguyên nhân khác là do xuất hiện một số kim loại có khả năng ôxy hóa trong khoang miệng có thể gây ra vị chua đặc trưng. Ngoài ra, tác dụng phụ khi sử dụng một số loại thuốc cũng gây ra vị chua trong miệng, kích thích tăng nồng độ axit trong dạ dày và chắc chắn sẽ phát triển các triệu chứng viêm ở dạ dày.

Thiếu nước chính là nguyên nhân gây ra tình trạng khô miệng (Ảnh minh họa)

Khô miệng và mặn: Thiếu nước chính là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Khi đó, cơ thể thiếu độ ẩm và chất dịch trong cơ thể chúng ta nên sẽ gây ra cảm giác luôn khát nước và có vị mặn trong miệng. Trong thành phần của nước bọt có chứa muối, nếu cơ thể thiếu nước nồng độ muối sẽ cao hơn thậm chí khiến chúng ta khát và khó thở. Và để tuyến nước bọt không bị ảnh hưởng và hoạt động tích cực bạn không nên ăn nhiều đồ ăn mặn và uống khoảng 2-2,5 lít nước mỗi ngày.

Ngọt lợ trong miệng: Một dấu hiệu của căn bệnh nguy hiểm- bệnh tiểu đường . Đối với bệnh nhân tiểu đường thì lượng đường trong máu cao sẽ làm cho miệng chúng ta có vị ngọt lợ. Ngoài ra, viêm tụy mãn tính và dùng thuốc tránh thai cũng gây nên vị ngọt trong miệng vì nó ảnh hưởng đến quá trình sản sinh insulin. Lưu ý rằng, bệnh tiểu đường xuất hiện ở mọi lứa tuổi và có xu hướng di truyền nên bạn cần xét nghiệm để tránh nguy cơ mắc bệnh.

Mùi trứng thối: Với một người “bẩm sinh” bị mắc chứng bệnh này, nguyên do là không sản xuất đủ lượng axit trong dạ dày trong khi cần tiêu hóa thức ăn và nồng độ của H2S sẽ tăng gây ra một mùi vị rất khó chịu như trứng thối. Do vậy, bạn cần xử lý, chế biến các món ăn của mình phù hợp với hệ tiêu hóa để tránh tình trạng khiến bạn mất tự tin.

Mùi tanh: Một mùi vị tanh tanh như “sắt” xuất hiện là dấu hiệu của chảy máu chân rằng, nướu vì trong máu có một lượng lớn hemoglobin mà thành phần chính là sắt. Mùi tanh xuất hiện cũng cảnh báo chức năng hoạt động bị giảm của hệ tuần hoàn, trao đổi chất, thay đổi nội tiết tố, các bệnh về dạ dày, đường ruột và bệnh tiểu đườ

Tại sao lại mất kinh?

Tại sao lại mất kinh?

 

Phần lớn phụ nữ đều lo lắng khi bỗng nhiên mất kinh hàng tháng. Những câu hỏi thường được đặt ra là liệu cơ thể có gì bất thường hay bị vỡ kế hoạch? những ngày chờ có kinh quả là thời gian căng thẳng với mong muốn nhanh chóng tìm ra nguyên nhân. Những trường hợp mất kinh này thường được gọi là vô kinh thứ phát.

 

Nguyên nhân hay gặp nhất là có thai, ngoài ra cũng có thể là biến chứng của một tình trạng không nghiêm trọng hoặc của một bệnh lý cần điều trị, hãn hữu lắm mới có vấn đề ở tuyến yên.

Cơ chế sinh lý của hiện tượng hành kinh

Cũng nên nhắc lại một cơ chế sinh lý quan trọng dẫn đến sự hình thành chu kỳ kinh nguyệt: Hàng tháng, ở buồng trứng có nhiều nang noãn bắt đầu phát triển, đó là những túi nước nhỏ bên trong có chứa một noãn chưa trưởng thành.

Cuối cùng chỉ có một nang noãn phát triển to nhất với một noãn đã trưởng thành bên trong, đồng thời bài tiết ra hormone chủ yếu là estrogen để làm phát triển lớp nội mạc tử cung, chuẩn bị cho trứng làm tổ nếu noãn được thụ tinh.

Khi nang noãn vỡ và giải phóng noãn bên trong (gọi là phóng noãn) thì noãn rơi vào loa vòi trứng rồi di chuyển vào tử cung. Trên đoạn đường di chuyển đó, nếu noãn gặp tinh trùng thì sẽ được thụ tinh và trở thành trứng. Trứng di chuyển tiếp về tử cung để làm tổ và phát triển thành phôi thai rồi thành thai. Nếu noãn không được thụ tinh thì hiện tượng hành kinh sẽ xảy ra.

Các nguyên nhân gây mất kinh

Chu kỳ kinh nguyệt bị chi phối bởi một phức hợp các hormone (hormone của các tuyến nhỏ trong não như tuyến dưới đồi, tuyến yên: estrogen và progesterone của buồng trứng) và nếu chỉ có một trục trặc nào đó trong quá trình này cũng có thể làm mất kinh. Phụ nữ có thể mất kinh do:

– Có thai: Trứng đã làm tổ trong lớp nội mạc tử cung và được nội mạc tử cung nuôi dưỡng nên không rụng để tạo thành kinh nguyệt.

– Dùng thuốc tránh thai: Một số phụ nữ có thể không có kinh khi dùng thuốc tránh thai. Nếu ngừng uống thuốc thì sau từ 3-6 tháng, hiện tượng phóng noãn và hành kinh lại xảy ra.

– Cho con bú: Thường không có kinh mặc dù vẫn có thể có phóng noãn, do đó có thể có thai. Phụ nữ không cho con bú hoàn toàn cần đề phòng có thai.

– Stress: Những căng thẳng tâm trí ảnh hưởng tạm thời đến tuyến dưới đồi, có thể làm mất quá trình phóng noãn và mất kinh. Chỉ khi sự căng thẳng tinh thần giảm đi mới có kinh trở lại.

– Dùng một số thuốc: Như thuốc tránh thai các loại, thuốc corticoid, thuốc chống trầm cảm, chống rối nhiễu tâm trí, chữa bệnh tuyến giáp, hóa liệu pháp.

– Bệnh tật: Một số bệnh mãn tính, chỉ khi khỏi bệnh thì kinh nguyệt mới trở lại.

– Mất cân bằng về hormone: Hội chứng buồng trứng đa nang làm cho nồng độ estrogen và androgen cao kéo dài, không lên xuống như trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường vì tuyến yên giảm bài tiết hormone, không tạo được phóng noãn và kinh nguyệt. Hội chứng này hay đi kèm với béo phì, vô kinh hoặc chảy máu tử cung bất thường.

– Suy dinh dưỡng: Người quá gầy dễ bị ngừng bài tiết estrogen và ngừng phóng noãn. Phụ nữ bị chứng chán ăn hoặc chứng ăn quá nhiều do nguyên nhân thần kinh – tâm lý thường bị thiếu hụt estrogen và mất kinh.

– Vận động quá nhiều: Hay gặp vô kinh ở những phụ nữ luyện tập thể thao căng thẳng. Hormone leptin báo cho não biết tỷ lệ mỡ của cơ thể và tỷ lệ này ảnh hưởng đến kinh nguyệt.

– Hoạt động kém của tuyến giáp: Bệnh ở tuyến giáp có thể làm tăng hay giảm bài tiết prolactin – một hormone sinh sản do tuyến yên bài tiết ra. Thay đổi về nồng độ hormone có thể ảnh hưởng đến tuyến dưới đồi và làm mất kinh.

– U tuyến yên: U lành của tuyến yên có thể làm cho prolactin được sản xuất quá nhiều, ảnh hưởng đến sự điều hòa kinh nguyệt. Loại u này hiếm gặp và thường có thể điều trị bằng thuốc.

Khi nào cần khám bác sĩ?

Sau khi loại trừ mất kinh do có thai, nếu có một trong những dấu hiệu và triệu chứng sau thì cần đến khám bác sĩ vì những thay đổi về kinh nguyệt có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm về một vấn đề sức khỏe khác.

– Mất kinh từ 3-6 tháng hay lâu hơn.

– Nhức đầu, rụng tóc hay thay đổi về thị lực.

– Vú tiết ra sữa hay dịch.

– Sau khi phẫu thuật có liên quan đến thai nghén từ 3-6 tháng mà kinh nguyệt không trở lại.

Phương pháp điều trị

Cần làm một số xét nghiệm để xác định nguyên nhân mất kinh

Xét nghiệm thử thách với progestin đòi hỏi 7-10 ngày dùng thuốc để gây chảy máu nhằm phát hiện mất kinh có phải do thiếu estrogen không? Thử máu để phát hiện bệnh ở tuyến giáp trạng hay tuyến yên. Chụp hình ảnh tuyến yên để phát hiện khối u.

Việc điều trị dựa trên nguyên nhân

Cần thay đổi lối sống nếu nghi ngờ bị stress, vận động quá nhiều, gầy sút hay tăng cân quá mức. Thiếu estrogen trong mất kinh ở người chơi thể thao có thể được điều trị bằng liệu pháp estrogen thay thế dưới dạng thuốc tránh thai. Mất kinh do tuyến giáp trạng hay tuyến yên có thể điều trị bằng thuốc.

Tránh bị mất kinh

Cần thực hiện một lối sống lành mạnh.

– Xem lại cách ăn uống và vận động để có cân nặng lý tưởng.

– Sinh hoạt điều độ, tạo sự cân đối giữa thời gian làm việc, nghỉ ngơi và giải trí.

– Chú ý cảm nhận về những thay đổi trong cơ thể, tốt nhất là được khám toàn diện định kỳ.

– Không dùng rượu, thuốc lá, ma túy.

BS.Đào Xuân Dũng

Đã có thuốc chữa khỏi hẳn bệnh Hắc Lào

ThegioiYduoc.com xin thông báo đã có thuốc chữa khỏi hẳn bệnh Hắc Lào .

 

Một liệu trình chỉ  hết : 50.000   VNĐ

 

Bạn nào bị hoặc có người thân bị có thể liên hệ đặt thuốc tại : ThegioiYduoc.com hoặc số điện thoại : 0988880695 

 

Chúng tôi sẽ gửi thuốc và hướng dẫn qua bưu điện cho các bạn … cảm ơn !

 

 

10 cách chữa rụng tóc hiệu quả

10 cách chữa rụng tóc hiệu quả

 

Ngày nay, việc chữa trị bệnh rụng tóc không còn hoàn toàn phụ thuộc vào những liệu pháp điều trị tiên tiến, hiện đại nữa mà  bạn hoàn toàn có thể áp dụng thêm các mẹo chữa rụng tóc hiệu quả mà không phải lo lắng đến bất cứ sự kích ứng nào. Cùng đọc để khám phá 10 cách chữa trị rụng tóc hiệu quả mà không cần dùng thuốc.

10 cách chữa rụng tóc hiệu quả

1. Nguyên nhân gây rụng tóc

Hiểu về nguyên nhân gây rụng tóc là bước đầu tiên trong việc tìm cách chữa rụng tóc cho bạn. Dưới đây là những nguyên nhân gây rụng tóc phổ biến hiện nay.

  •  Dùng một số loại thuốc có tác dụng phụ gây rụng tóc.
  •  Buộc tóc quá chặt.
  •  Amidan bị nhiễm trùng.
  •  Bị bệnh giang mai.
  •  Vừa trải qua phẫu thuật.
  •  Thiếu sắt hoặc kẽm.
  •  Shock, stress, hay suy sụp tinh thần.
  •  Đang mang thai hoặc vừa sinh em bé.
  •  Bị tiểu đường, rối loạn nội tiết, hay mất cân bằng tuyến giáp.
  •  Mãn kinh.

2. Nên điều trị chứng rụng tóc khi

Bình thường tóc rụng từ 40 đến 100 sợi một ngày. Tuy nhiên, bạn cần điều trị chứng rụng tóc ngay khi gặp một trong các triệu chứng sau đây:

  •  Tóc rụng trên 100 sợi mỗi ngày;
  •  Việc rụng tóc kéo dài hơn một năm;
  •  Rụng nhiều cả khi ướt lẫn khô;
  •  Tóc thưa thớt, có thể thấy rõ da đầu (ở nữ) hoặc tóc rụng từng mảng, gây hói nhẹ (ở nam);
  • Tóc con mọc lên yếu, mềm, mảnh, xoăn…hoặc không có tóc con mọc.
  • Với rụng tóc bệnh lý, nếu bạn không tiến hành điều trị ngay thì sẽ rất khó trong việc điều trị về sau. Một số trường hợp rụng tóc để lâu sẽ làm cho nang tóc thoái hóa, gây rụng tóc vĩnh viễn.

3. 10 cách chữa rụng tóc hiệu quả

Để chữa chứng rụng tóc một cách hiệu quả, bạn có thể áp dụng các cách sau đây.

Ngăn ngừa stress: Stress là lý do tại sao tóc bạn hoa râm sớm hay rụng nhiều. Để hạn chế bớt, hãy tránh những căng thẳng càng nhiều càng tốt. Massage thư giãn khi chải tóc hoặc ngưng suy nghĩ nhiều, bạn sẽ không còn đau đầu hay stress nữa. Hãy thư giãn và giảm cường độ làm việc nếu cần.

Sử dụng dầu dừa: Dùng dầu dừa thoa lến khắp da đầu và mát xa nhẹ nhàng từ chân tóc. Cách làm này sở dĩ rất công hiệu bởi trong dừa có chứa một lượng lớn các dưỡng chất chất cần thiết để nuôi dưỡng mái tóc. Bên cạnh đó, bạn có thể dùng viên nén vitamin E thay thế cho dầu dừa cũng đem lại hiệu quả tương tự.

Gội đầu với nước trà: Pha 50g trà với 1 lít nước sôi để âm ấm, sau khi gội đầu xong dùng nước trà gội lại một lần nữa.

Rượu táo: Hâm nóng dấm rượu táo, dùng dung dịch đó để bôi đều lên da đầu. Khoảng 1 giờ sau gội sạch. Cách làm này không chỉ có tác dụng ngăn ngừa chứng rụng tóc mà còn kích thích giúp tóc mọc nhanh hơn.

Thần dược Lô Hội: Bạn có thể uống 1/3 cốc nước ép lô hội mỗi ngày để giúp “tăng cường sức đề kháng” cho mái tóc và giảm nguy cơ gãy rụng. Ngoài ra, cũng với lá cây lô hội bạn có thể tự “chế” thuốc bôi giúp ngừa chứng rụng tóc, bằng cách lấy khoảng 1 thìa nhựa của cây lô hội (hoặc lô hội đã được chiết xuất), sau đó thêm 1 chút nước ép của lá cây thìa là Ai Cập. Dùng hỗn hợp này để thoa lên vùng tóc bị rụng ít nhất khoảng 3 lần mỗi ngày, nên làm trong vòng 3 – 4 tháng.

Rau rền: Ép lá cây rau dền lấy nước và dùng bông gòn hay khăn vải mềm thấm nước đắp lên da đầu. Cách làm này đặc biệt kích thích giúp tóc mọc nhanh trở lại.

Tiêu + hạt chanh: Tán nhuyễn hạt chanh cùng với hạt tiêu đen, trộn lẫn với nhau. Thêm một chút nước tạo thành dung dịch bột nhão. Dùng loại hỗn hợp này bôi lên da đầu, bạn có thể sẽ phải chịu đựng cảm giác hơi nóng rát nhưng chỉ sau một thời gian ngắn tóc của bạn sẽ không bị gãy rụng nữa, mà thay vào đó là những lọn tóc mới chắc khỏe hơn.

Vừng tươi + nước vo gạo: Vừng tươi 40 – 100 gam, đun với 2,5 – 3 lít nước vo gạo. Để hơi ấm rồi gội đầu. Sau khi tóc khô, dùng nước sạch gội lại. Mỗi ngày gội 1 lần.

Ủ tóc bằng khăn: Ngâm một chiếc khăn mặt trong nước nóng và sau đó vắt hết nước. Dùng chiếc khăn đó phủ lên trên đầu khoảng 10 phút, bạn nên làm theo cách này ít nhất 1 lần/tuần. Và đừng quên thêm một chút dầu qủa hạnh vào chậu nước nóng dùng để ngâm khăn mặt.

Một giải pháp mới đã được đưa ra gần đây: sử dụng các thảo dược và dưỡng chất như Kẽm, L-arginine, Biotin và L-carnitine trong sản phẩm Maxxhair giúp tạo cân bằng hooc môn, làm giảm nồng độ DHT một cách tự nhiên, an toàn và hiệu quả. DHT giảm không những làm giảm lượng bã nhờn ở chân tóc, mà còn giúp kích thích “nhú tóc” – là nơi sinh ra tóc – sinh trưởng và tạo ra tóc con ở các chân tóc đã rụng lâu ngày. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc giúp ngăn ngừa hiện tượng “hói đầu sớm” ở phụ nữrụng tóc nhiều.

Rụng tóc từng mảng

Rụng tóc từng mảng

Thông thường, người ta bị rụng 30 – 60 sợi tóc mỗi ngày và cũng có ngần ấy sợi tóc mới mọc. Bệnh rụng tóc được xác nhận khi số lượng tóc rụng mỗi ngày vượt quá 100 sợi.

Chu kỳ sinh trưởng của sợi tóc

Trung bình, trên đầu của mỗi người có khoảng hơn 100.000 sợi tóc và chúng đều trải qua các thời kỳ: sinh trưởng, ngừng sinh trưởng và rụng. Thời kỳ sinh trưởng kéo dài 2 – 6 năm. Lúc đó, các tế bào tủy tóc phân chia dồi dào làm tóc liên tục mọc dài ra. Tốc độ sinh trưởng của tóc khoảng 1cm mỗi tháng. Tiếp theo là thời kỳ ngừng sinh trưởng kéo dài khoảng 2 – 3 tháng, tóc không mọc dài ra và cũng không rụng đi.

Ở tuổi thành niên, có khoảng 5% số sợi tóc thuộc vào thời kỳ ngừng sinh trưởng. Khi hết vòng đời, chúng rụng đi nhưng lại được thay thế bằng một sợi khác đang mọc ra. Vào mùa xuân hay mùa thu, tóc hay bị rụng nhiều hơn. Những khi bạn nhìn thấy tóc rụng trong bồn rửa mặt, bồn tắm hay rải rác trong nhà là dấu hiệu không bình thường. Để kiểm tra có thể làm trắc nghiệm sau: sau 3 ngày gội đầu bằng dầu gội, kẹp một lọn tóc khoảng 10 sợi giữa hai ngón tay cái, tay trỏ và kéo mạnh. Nếu có hơn hai sợ bị rụng là dấu hiệu xấu.

Nguyên nhân gây rụng tóc

Điều trị bệnh rụng tóc không đơn giản vì có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này. Để chọn loại thuốc thích hợp, cần tìm ra yếu tố gây rụng tóc, chẳng hạn như dùng nhiều hóa chất, căng thẳng…

Rụng tóc do yếu tố cơ – lý – hóa

Tết tóc, bện tóc quá chặt, tóc bị căng kéo, uốn tóc bằng lược nóng, hóa chất gây gãy, rụng, biến dạng. Để khắc phục, cần loại trừ các yếu tố cơ lý hóa gây rụng, gãy tóc.

Rụng tóc sau sinh, sau chấn thương lớn, mất máu, bệnh truyền nhiễm (sốt rét, tả, lỵ, thương hàn, sốt xuất huyết

Tóc rụng thưa đều toàn đầu, tóc khô xơ xác, có thể suy nhược. Tóc sẽ mọc lại khi cơ thể hồi phục sức khỏe.

Về điều trị, cho bệnh nhân uống bepanthen, vitamin C, B1, B6… và tăng cường dinh dưỡng trong ăn uống.

Rụng tóc Pelade

Trên đầu có các đám rụng tóc hình tròn kích thước vài cm, da nhẵn như sẹo, tóc rụng nhẵn hoặc chỉ còn lại chấm đen, có một số sợi ngắn đen, mập “hình dùi cui” và một số sợi tóc như lông tơ, có khi rụng nhẵn toàn bộ da đầu.

Nguyên nhân là rối loạn miễn dịch tại vùng rụng tóc. Về điều trị, cho bôi mỡ corticoid, uống corticoid từng đợt, ngoài ra có thể uống bepanthen, vitamin C, 3B, an thần,

Chiếu tia cực tím UVB311 là một trong phương pháp thành công trong điều trị rụng tọc từng mẳng, nhở vào khả năng ức chế miễn dịch dưới tác dụng của tia cực tím UVB 311 ngăn chặn được hệ miễn dịch phá huỷ chân tóc.

Rụng tóc liên quan androgen

Còn gọi là chứng hói tiến triển, đầu tiên rụng tóc vùng trán tạo thành hình chữ M, sau rụng thưa đều vùng trán đỉnh, dần dần tóc rụng nhẵn vùng đó thành chứng hói đầu, nhưng vành tóc phía bên và sau gáy vẫn mọc tốt, lông mày, lông mi, râu cằm vẫn mọc, loại này điều trị còn khó khăn.

Tại chỗ có thể xịt thuốc minoxidil ngày 2 lần mỗi lần 10 nhát (tương đương 1 ml). Có thể uống một trong các thuốc kháng androgen như cimetidin, spironolacton, cyproteron nhưng cần thận trọng.

Một phương pháp được coi là khả quan nhất hiện nay là cấy tóc (hair transplantation).

Rụng tóc anagen

Rụng tóc lan tỏa chủ yếu do thuốc, nhiễm độc, hóa trị liệu (chẳng hạn như các thuốc chống đông máu, chống u, chống động kinh, Parkinson, tránh thai, thuốc làm giảm cholesterol máu).

Cách điều trị quan trọng nhất là bệnh nhân ngừng dùng các thuốc đó. Sau một thời gian dài hay ngắn, tóc sẽ mọc lại. Có thể cho bệnh nhân uống bepanthen, biotin.

Rụng tóc do tật nhổ tóc

Là tật của một số người, cả trẻ em và người lớn, có yếu tố tâm thần kinh. Những người này có một cảm giác khó chịu không cưỡng lại được dẫn đến nhổ tóc, thường nhổ vào đêm lúc chưa ngủ được, lúc xem tivi hay khi cáu kỉnh, căng thẳng. Họ thường nhổ vùng đỉnh, phía trước và hai bên thái dương, khám thấy tóc không đều, chỗ thưa chỗ mọc tốt (do nhổ không thể đều các vùng), da đầu bình thường.

Điều trị quan trọng nhất là thuyết phục bệnh nhân bỏ thói quen nhổ tóc; nếu da đầu có viêm nhiễm thứ phát cho bôi mỡ kháng sinh.

Rụng tóc do nấm tóc

Bệnh này có thể lây từ người sang người do dùng chung mũ, lược hay lây từ các súc vật (chó, mèo…) sang người. Trên da đầu có đám mảng viêm đỏ giới hạn rõ hoặc không, có vảy trắng, có khi vảy trắng bao quanh chân tóc (dấu hiệu đi bít tất). Tóc bị phạt gãy còn lại mẩu ngắn cách da đầu 1-3 mm đến 1-2 cm, có khi chỉ còn lại chấm đen.

Điều trị nấm tóc hiện nay có nhiều thuốc chống nấm tốt như mỡ clotrimazol, kem nizoral, lamisil, viên uống ketoconazol, nizoral, sporal.

Các biện pháp chống rụng tóc

Chế độ ăn uống đủ chất: Chất đạm, chất khoáng và vitaminẢnh hưởng của dinh dưỡng đến mái tóc rất rõ rệt. Vitamin H (hay còn gọi là biotin H, vitamin B8), chất đạm, vitamin nhóm B và các chất khoáng có khả năng kích thích sự phát triển của tóc.

Một nguyên nhân phổ biến gây rụng tóc ở phụ nữ là thiếu các chất khoáng do chế độ ăn kiêng “sợ béo”. Thường gặp nhất là phụ nữ thiếu chất sắt do kinh nguyệt nhiều hoặc kéo dài, người ăn ít thịt đỏ (thịt bò, thịt chó, thịt lợn lạc), ăn ít rau xanh, tươi. Có thể bổ sung bằng uống viên sắt như viên fumafer B9 corbière. Thiếu chất kẽm làm tóc kém phát triển, tóc trở nên mảnh, nhỏ, có màu vàng ố, không óng ả, tóc hay bị rụng. Kẽm có tác dụng định mức chuẩn tỷ lệ chất bã nhờn, chống một số chất độc, kim loại nặng, cho ta một mái tóc khỏe mạnh và sạch sẽ. Kẽm có nhiều trong gan, sò, thịt đỏ, cá, óc, trứng.

Có rất nhiều vitamin làm bền vững tóc. Vitamin A thường xuyên cần cho quá trình sừng hóa lớp thượng bì, hình thành chất kêratin. Thiếu vitamin B2 không những làm mất màu tóc, tóc bị duỗi thẳng mà còn gây hói. Trong cơ thể, vitamin B6 tham gia quá trình trao đổi chất làm cơ năng của tế bào biểu bì khỏe hơn, có thể khống chế chốc đầu vì da đầu nhiều dầu. Thiếu vitamin C, các miệng nang lông nở rộng ra và bì sừng hóa nặng làm các tóc không thể mọc lên được. Vitamin D2, D3 thúc đẩy sự sinh trưởng tóc thông qua tác dụng đến chuyển hóa canxi, phốt pho, hệ thống thần kinh thực vật, các tuyến nội tiết. Để tạo thêm sinh lực cho tóc, có thể dùng vitamin B5, vitamin H, các acid amin có lưu huỳnh như mêthionin, có tác dụng tham gia vào quá trình tạo kêratin.

Tránh tình trạng quá căng thẳng, stress mạnh. Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân chính dẫn đến rụng tóc ở phụ nữ là do stress trong công việc hằng ngày ngày càng tăng. Thường gặp ở phụ nữ khi có thai, sau khi sinh nở, sau phẫu thuật, ăn kiêng không hợp lý, quá mệt mỏi, bận rộn… Hậu quả của stress không chỉ thể hiện ở hiện tượng rụng tóc mà còn làm xấu làn da, da hay bị sần, có đốm và mẩn ngứa.

Điều chỉnh các nội tiết tố: Đối với phụ nữ, tình trạng rụng tóc từng mảng thường liên quan đến sự tăng hoặc giảm nội tiết tố nam trong máu. Do ảnh hưởng của nội tiết tố mà chu kỳ phát triển của tóc bị giảm sút, chân tóc bị teo lại, không nâng nổi sợi tóc bình thường, làm rụng tóc. Sau đó, các sợi tóc mảnh hơn tiếp tục mọc lên ngày càng nhiều, những sợi tóc khỏe, cứng ngày càng giảm. Y học gọi là chứng rụng tóc do nam tính hóa mà về lâu dài sẽ gây hiện tượng thưa tóc. Trường hợp này cần được chữa tại các chuyên khoa da liễu, nội tiết.

Dùng thuốc chống rụng tócThuốc chống rụng tóc bổ sung các hoạt chất cần cho sự phát triển tóc ngay ở phần nuôi dưỡng da nằm dưới chân tóc. Phần lớn các thuốc chứa vitamin, chất khoáng và acid amin có hiệu quả cho các trường hợp chỉ bị rụng tóc nhẹ.

Các biện pháp khácMột biện pháp cho kết quả rất khả quan là cấy tóc nhưng cũng mất khá nhiều thời gian, tiền bạc và công sức. Tóc vốn mọc ra từ các nang tóc và tế bào nang được hình thành từ tế bào gốc nằm ngay bên cạnh nang. Một số nghiên cứu gần đây đã cho rằng có thể dùng loại tế bào gốc này để trị chứng rụng tóc, bệnh hói đầu và hơn nữa, có thể là một nguồn phát triển các tế bào gốc – những tế bào ban đầu của sự sống, có khả năng phát triển thành bất kỳ loại mô nào trong cơ thể.