Những nguyên nhân bị “hói” của phái đẹp ? Rụng tóc từng mảng là gì ?

Những nguyên nhân bị “hói” của phái đẹp ? Rụng tóc từng mảng là gì ?

Mái tóc là góc con người: Nghiên cứu cho thấy tóc và hình ảnh cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ. Thi thoảng một ngày bạn ra đường với một mái tóc xấu, thì ngày đó bạn cũng cảm thấy tồi tệ. Tình trạng rụng tóc có thể là một cảnh tượng đau buồn đối với tất cả các chị em khi mỗi sáng soi gương.

Rụng tóc cũng thường xảy ra ở nữ giới: Suy nghĩ tóc mỏng chỉ là vấn đề của quý ông thật sai lầm. 40% số người rụng tóc kinh niên hoặc tạm thời là phụ nữ. Một số người bị rụng tóc trên phạm vi cả đầu, số khác tóc đỉnh đầu mọc rất nhanh, trái lại, có những người bị “hói trọi” cả đỉnh đầu. Không giống như nam giới, phụ nữ hiếm khi bị hói trán.

Làm thế nào để tóc mọc: Da đầu trung bình có 100.000 sợi tóc. Mỗi nang tóc sinh sản một sợi, phát triển 2,54cm mỗi tháng. Sau khi mọc trong 2 – 6 năm, sợi tóc ngừng lại một thời gian trước khi rụng. Nó sớm được thay thế bằng một sợi tóc mới, và chu kỳ bắt đầu một lần nữa. Tại bất kỳ thời điểm nào, 85% sợi tóc phát triển và phần còn lại trong trạng thái “nghỉ ngơi”.

Rụng tóc bao nhiêu là bình thường?: Bởi các sợi tóc thường ngưng phát triển trước khi rụng, hầu hết mọi người rụng khoảng 50-100 sợi mỗi ngày. Bạn thường thấy một vài sợi tóc vương lại trong lược chải tóc hoặc trên quần áo. Rụng tóc bất thường có thể xảy ra theo nhiều cách. Bạn có thể thấy cả một nhúm tóc đáng sợ rụng ra khi bạn gội đầu hay làm tóc. Hoặc tóc của bạn có thể mỏng dần theo thời gian. Nếu bạn lo ngại về những thay đổi trong mái tóc của bạn, hãy kiểm tra bác sĩ.

Tìm căn nguyên rụng tóc: Có khoảng 30 lý do liên quan đến y tế cũng như lối sống khiến bạn bị rụng tóc. Đôi khi rụng tóc không có nguyên nhân cụ thể. Ngay tại thời điểm bắt đầu rụng tóc, các chuyên gia về tóc rụng sẽ khuyên bạn nên xét nghiệm để tìm ra các vấn đề về tuyến giáp và sự mất cân bằng hormone. Trong nhiều trường hợp, tóc sẽ mọc trở lại khi nguyên nhân được giải quyết.

Đo sự rụng tóc ở phụ nữ: Tỷ lệ Savin là một biện pháp phổ biến đo dao động từ mật độ tóc thông thường đến vành hói (rất hiếm). Nó rất hữu ích trong các nghiên cứu hói đầu của nữ (ảnh hưởng đến khoảng 30 triệu phụ nữ Mỹ). Các chuyên gia cho rằng di truyền và lão hóa đóng một vai trò quan trọng trong quá trình rụng tóc do nội tiết tố (androgenic alopecia), cùng với những thay đổi nội tiết tố của thời kỳ mãn kinh. Tóc có thể bị mỏng trên cả đầu, nhiều nhất dọc theo vùng giữa da đầu.

Các yếu tố kích hoạt sự rụng tóc:

1. Vấn đề tuyến giáp: Tuyến giáp là một tuyến hình bướm ở mặt trước của cổ. Sản xuất hormone điều hòa nhiều quá trình khắp cơ thể. Nếu tuyến này sinh quá nhiều hay ít hormone tuyến giáp, chu kỳ phát triển của tóc có thể bị biến đổi. Tuy nhiên, rụng tóc hiếm khi là dấu hiệu duy nhất của trục trặc tuyến giáp. Các triệu chứng khác bao gồm tăng hoặc giảm cân, dễ cảm lạnh hoặc cảm nóng, và những thay đổi trong nhịp tim.

2. Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS): Phụ nữ bị hội chứng này bị mất cân bằng nội tiết tố mãn tính. Cơ thể tạo ra mức androgen cao hơn so với dự kiến. Điều này thường gây tình trạng lông tóc mọc lên trên mặt và cơ thể, trong khi tóc trên da đầu phát triển mỏng hơn. Hội chứng buồng trứng đa nang cũng có thể dẫn đến các vấn đề rụng trứng, mụn trứng cá và tăng cân. Nhưng đôi khi tóc thưa là dấu chỉ rõ ràng.

3. Rụng tóc từng vùng: Tình trạng này làm tóc rụng làm trơ từng mảng da đầu. Thủ phạm là hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công nhầm vào các nang tóc khỏe mạnh. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh này không vĩnh viễn. Các vùng tóc rụng thường phát triển trở lại trong 6 tháng đến một năm. Trong một số trường hợp hiếm gặp, người bệnh có thể rụng tất cả lông tóc trên da đầu và cơ thể của họ.

4. Bệnh vảy nến: Nấm là một nguyên nhân khiến tóc bị rụng nhiều. Hình ảnh dễ thấy của bệnh này là da đầu xuất hiện những mảng hói tròn, ngứa. Khu vực hói có thể xuất hiện vảy và đỏ. Bệnh vảy nến da đầu được điều trị bằng thuốc kháng nấm. Nấm có thể dễ dàng lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, do đó, các thành viên trong gia đình cũng cần được kiểm tra các triệu chứng.

5. Sinh sản: Một số phụ nữ có thể nhận thấy tóc của họ có vẻ dầy hơn trong thời kỳ mang thai. Đó là nhờ mức kích thích tố cao giữ cho tóc trong tình trạng “nghỉ ngơi” không bị rụng như thường lệ. Nhưng nó không kéo dài mãi. Sau khi sinh con, khi nồng độ hormon trở về bình thường, những sợi tóc này rơi ra một cách nhanh chóng (bạn có thể thấy lượng lớn tóc rụng một cách đáng ngạc nhiên). Tình trạng này kéo dài khoảng 2 năm.

6. Thuốc tránh thai: Một tác dụng phụ ít được biết đến của thuốc tránh thai là khả năng gây rụng tóc. Các hormone ức chế rụng trứng có thể gây ra tóc mỏng ở một số phụ nữ, đặc biệt là với những người có tiền sử gia đình rụng tóc. Đôi khi bạn bắt đầu rụng tóc khi ngừng dùng thuốc. Các loại thuốc khác có liên quan đến rụng tóc bao gồm chất làm loãng máu và thuốc điều trị cao huyết áp, bệnh tim, viêm khớp và trầm cảm.

7. Chế độ ăn kiêng: Bạn có thể mất nhiều hơn là trọng lượng với một chế độ ăn kiêng. Mọi người có thể nhận thấy tóc rụng sau 3 – 6 tháng, khi giảm khoảng 6kg, nhưng tóc sẽ mọc lại nếu bạn áp dụng chế độ ăn kiêng lành mạnh. Cẩn thận nếu chế độ ăn uống của bạn quá thấp hàm lượng protein hoặc quá nhiều vitamin A.

8. Buộc tóc quá chặt: Tết tóc hoặc buộc tóc đuôi ngựa quá chặt có thể gây kích ứng da đầu và gây tóc rụng. Điều này cũng xảy ra nếu bạn cuốn lô chặt. Hãy buông mái tóc của bạn xuống và nó sẽ phát triển trở lại bình thường. Nếu bạn thắt tóc quá chặt trong thời gian dài, có thể gây ra sẹo trên da đầu và rụng tóc vĩnh viễn.

9. Trị liệu ung thư: Rụng tóc là một trong những tác dụng phụ khủng khiếp của điều trị ung thư: hóa trị và xạ trị. Trong khi tìm kiếm và tiêu diệt các tế bào ung thư, cả hai phương pháp trên đều có thể gây tổn hại nang tóc, gây rụng tóc đáng kể. Tuy nhiên, sự rụng tóc chỉ là tạm thời. Sau khi điều trị xong, tóc thường mọc trở lại.

10. Căng thẳng cực độ: Sự căng thẳng cùng cực về thể chất hoặc tinh thần có thể gây ra sự rụng tóc đột ngột từ 1/2 đến 3/4 tóc trên đầu bạn. Ví dụ như các tình trạng: bệnh nặng hoặc phẫu thuật lớn; chấn thương liên quan đến mất máu; chấn thương nặng về tình cảm. Quá trình rụng tóc thể kéo dài 6-8 tháng.

Bạn có thể điều trị rụng tóc bằng các cách sau:

1. Thuốc: Minoxidil (Rogaine) được FDA cấp phép, điều trị bệnh rụng tóc ở nữ. Nó có thể làm chậm lại hoặc ngăn chặn rụng tóc ở hầu hết phụ nữ và có thể giúp 1/4 người điều trị mọc tóc trở lại. Nhưng hiệu quả của thuốc sẽ ngừng lại nếu bạn không dùng thuốc tiếp. Đối với phụ nữ bị rụng tóc từng vùng, corticosteroids có thể giúp tóc mọc lại. Và nếu bạn có bệnh hoặc thiếu hụt dinh dưỡng, tóc thường mọc lại khi tình trạng này được kiểm soát.

2. Các thiết bị Laser: Thiết bị phát ra ánh sáng laser năng lượng thấp có thể kích thích tăng trưởng tóc. Loại thiết bị này có sẵn ở một số trạm y tế Mỹ và một số loại máy cầm tay sử dụng được ở nhà.

3. Cấy ghép tóc: Lộ trình này nhằm di chuyển tóc từ vùng tóc tốt đến vùng tóc mỏng. Vấn đề là, nữ thường bị kiểu tóc mỏng cả đầu, do đó, phần tóc tốt bị giới hạn. Các trường hợp ngoại lệ là những phụ nữ bị chứng hói đầu hoặc rụng tóc do sẹo.

4. Các sản phẩm và thiết bị chống rụng tóc: Chỉ cần gõ tìm kiếm trên internet, sẽ hiện lên hàng tá sản phẩm ngăn ngừa rụng tóc hoặc kích thích mọc tóc. Không may, không có cách nào để biết liệu các hình ảnh quảng cáo là trước hay sau khi được chữa trị. Để đánh giá một sản phẩm điều trị rụng tóc, bạn có thể kiểm tra với: một bác sĩ chuyên khoa da liễu; cac cơ sở y tế; cơ quan quản lý nhà nước về sản phẩm y tế.

Cách che tóc mỏng: Hỏi chuyên gia trang điểm để có lời khuyên về kiểu tóc phù hợp với bạn: cắt ngắn, uốn nhẹ… Một sản phẩm tạo kiểu cho mái tóc mỏng có thể giúp ẩn những vùng rụng tóc. Bạn uốn phía chân tóc và nhẹ nhàng sấy khô để làm tóc trông dầy hơn (hãy sấy se tóc trước khi sấy thổi). Mỹ phẩm đặc biệt có thể ngụy trang các khu vực da đầu bị hói. Vài loại mỹ phẩm cho tóc chứa sợi keratin cũng nên được thử. Chúng được rắc lên chỗ da trống, khiến tóc trông dầy hơn.

Nếu rụng tóc quá nhiều: Chữa các vùng tóc rụng vĩnh viễn là một thách thức đối với hầu hết các phụ nữ. Nếu khu vực mỏng quá rõ ràng, hãy xem xét đến một bộ tóc giả, khăn quàng cổ, hoặc một chiếc mũ để “cải trang” các điểm hói. Một bộ tóc giả chất lượng tốt sẽ tạo sự thoải mái và bạn hiếm khi còn phải lo một ngày ra đường với mái tóc tồi tệ. Nếu việc rụng tóc gây trở ngại cho công việc hay cuộc sống xã hội của bạn, hoặc làm cho bạn không muốn ra khỏi nhà, suy nghĩ đến việc trò chuyện với nhân viên tư vấn

Tiểu đường

Tiểu đường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 
 
Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin.
Những nội dung không có nguồn có thể bị đặt vấn đề và xóa bỏ. Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết.
Star of life2.svg
Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe.
Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia.
Tiểu đường
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Vòng tròn màu xanh biểu tượng cho bệnh tiểu đường.[1]
ICD10 E10.E14.
ICD9 250
MedlinePlus 001214
eMedicine med/546 emerg/134
MeSH C18.452.394.750

Đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường hay Bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vànhtai biến mạch máu nãomù mắtsuy thậnliệt dươnghoại thư, v.v.

 

 

Dịch tễ học[sửa]

Ở Anh khoảng 1,6 triệu người bị ĐTĐ[2]. Tại Hoa Kỳ, số người bị ĐTĐ tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh. Người tuổi trên 65 bị ĐTĐ gấp hai lần người tuổi 45–54[3].

Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà NộiHuếThành phố Hồ Chí MinhHải Phòng, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mang bệnh tiểu đường ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%, vùng đồng bằng, ven biển. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%[4].

Phân loại[sửa]

Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin.

Loại 1 (Typ 1)[sửa]

Khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân Bệnh tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (<20T). Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị. Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton.

Những triệu chứng điển hình của Bệnh tiểu đường loại 1 là: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều (4 nhiều), mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng.

Loại 2 (Typ 2)[sửa]

Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương.

Bệnh tiểu đường do thai nghén[sửa]

Tỷ lệ bệnh tiểu đường trong thai kỳ chiếm 3-5% số thai nghén; phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ.

Triệu chứng[sửa]

TYPE 1: Các triệu chứng thường thấy là tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh là các triệu chứng thấy ở cả hai loại.

Lượng nước tiểu thường từ 3-4 lít hoặc hơn trong 24 giờ, nước trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mảng trắng.

Tiểu dầm ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu khởi phát của đái tháo đường ở trẻ nhỏ.

Với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm (chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này).

Chẩn đoán[sửa]

Chẩn đoán ĐTĐ bằng định lượng đường máu huyết tương:

ĐTĐ: đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (≥ 7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp.

Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200 mg/dl (≥ 11,1 mmol/l).

Người có mức đường máu lúc đói từ 5,6-6,9 mmol/l được gọi là những người có “rối loạn dung nạp đường khi đói”. Những người này tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân ĐTĐ, nhưng cũng không được coi là “bình thường” vì theo thời gian, rất nhiều người người “rối loạn dung nạp đường khi đói” sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có lối sống tốt. Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng những người có “rối loạn dung nạp đường khi đói” bị gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, đột quị hơn những người có mức đường máu < 5,5 mmol/l.

Đôi khi các bác sỹ muốn chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ hơn nữa bằng cách cho uống đường glucose làm bộc lộ những trường hợp ĐTĐ nhẹ mà thử máu theo cách thông thường không đủ tin cậy để chẩn đoán. Cách đó gọi là “test dung nạp glucose bằng đường uống”.

Test này được thực hiện như sau:

Điều kiện: ăn 3 ngày liền đủ lượng carbonhydrat (> 200g/ngày), không dùng thuốc làm tăng đường máu, đường máu lúc đói bình thường, không bị stress.

Thực hiện: nhịn đói 12 giờ, uống 75 gam đường glucose trong 250ml nước (không nóng – không lạnh). Định lượng đường máu sau 2 giờ.

Đọc kết quả: ‘Test dung nạp glucose đường uống’:

Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥11,1 mmol/l: chẩn đoán ĐTĐ; nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥7,8 mmol/l nhưng < 11,1 mmol/l: những người này được xếp loại giảm dung nạp đường glucose. Người mắc giảm dung nạp đường glucose không những có nguy cơ cao tiến triển thành ĐTĐ sau này, mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh tim-mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Định lượng đường niệu: chỉ có giá trị rất hãn hữu trong việc theo dõi đối với bản thân bệnh nhân ngoại trú. Không dùng để chẩn đoán bệnh.

Các xét nghiệm bổ sung: sau khi được chẩn đoán xác định và làm những xét nghiệm theo dõi thường kỳ (1-2lần/năm) để thăm dò các biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị:

Khám lâm sàng: lưu ý kiểm tra cân nặng, huyết áp, bắt mạch ngoại biên và so sánh nhiệt độ da, khám bàn chân, khám thần kinh bao gồm thăm dò cảm giác sâu bằng âm thoa. Khám mắt: phát hiện và đánh giá tiến triển bệnh lý võng mạc.

Xét nghiệm: đặc biệt lưu ý creatinin, mỡ máu, microalbumin niệu (bình thường < 30 mg/ngày) hoặc định lượng protein niệu. Đo điện tim nhằm phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim. Soi đáy mắt..

Định lượng HbA1 hoặc HbA1c: đánh giá hồi cứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây. Đường máu cân bằng tốt nếu HbA1c < 6,5%.

Trong một số tình huống (không phải là xét nghiệm thường qui):

Fructosamin: cho biết đường máu trung bình 2 tuần gần đây, có nhiều lợi ích trong trường hợp người mắc ĐTĐ đang mang thai. Nếu đường máu cân bằng tốt, kết quả < 285 mmol/l.

Peptid C (một phần của pro-insulin): cho phép đánh giá chức năng tế bào bêta tụy.

Điều trị[sửa]

Star of life2.svg
Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe.
Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia.

Luôn theo dõi tình trạng bệnh[sửa]

Những người bị bệnh nên có sẵn máy đo đường huyết cá nhân tại nhà để có thể tiện việc theo dõi bệnh tình. Nếu thấy có những chuyển biến bất thường thì nên đến ngay bác sỹ, không nên tự điều trị.

Lối sống và thái độ ăn uống[sửa]

Chế độ ăn tốt cho bất kỳ người ĐTĐ cũng cần thoả mãn các yếu tố cơ bản sau:

  • Đủ chất Đạm – Béo – Bột – Đường – Vitamin – Muối khoáng – Nước với khối lượng hợp lý.
  • Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn.
  • Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.
  • Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày.
  • Duy trì được cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý.
  • Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận…
  • Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc của bản thân và gia đình.
  • Đơn giản và không quá đắt tiền.
  • Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như là khối lượng của các bữa ăn.

Thuốc điều trị[sửa]

Insulin (dùng cho dạng typ1)[sửa]

Căn cứ vào tác dụng, giới chuyên môn chia ra 03 nhóm:

  • Insulin tác dụng nhanh: gồm Insulin hydrochlorid, nhũ dịch Insulin-kẽm
  • Insulin tác dụng trung bình: Isophan Insulin, Lente Insulin
  • Insulin tác dụng chậm: Insulin Protamin kẽm, Insulin kẽm tác dụng chậm

Insulin được chỉ định dùng cho bệnh nhân đái tháo đường thuộc Typ1, nó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường typ2 khi đã thay đổi chế độ ăn, luyện tập và dùng các thuốc điều trị đái tháo đường tổng hợp mà không hiệu quả

  • Phản ứng phụ của Insulin: Dị ứng (sau khi tiêm lần đầu hoặc nhiều lần tiêm), hạ Glucose máu (thường gặp khi tiêm quá liều), Phản ứng tại chỗ tiêm (ngứa, đau, cứng vùng tiêm).Do gây rối loạn chuyển hóa mỡ tại vùng tiêm, tăng sinh mỡ dễ gây u mỡ, giảm sẽ gây xơ cứng (khó tiêm, đau)

Thuốc dùng cho dạng typ2[sửa]

Các dẫn xuất của Sulfonyl ure, chia làm 02 nhóm:

  • Nhóm 1: có tác dụng yếu, gồm – Tolbutamid, Acetohexamid, Tolazamid, Clopropamid
  • Nhóm 2: có tác dụng mạnh hơn, gồm – Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid

Ngoài ra có thể sử dụng sản phẩm Tainsulin với chiết suất từ cây Dây Thìa Canh – Đề tài Nghiên cứu cấp Bộ của Tiến sỹ Trần Văn Ơn, chủ nhiệm bộ môn Thực vật trường ĐH Dược Hà Nội để phòng và hỗ trợ trong việc điều trị Đái Tháo Đường Các nhóm trên có tác dụng hạ đường huyết do ngăn cản tế bào tuyến tụy tạo ra Glucagon và kích thích tế bào Beta ở tuy tiết ra Insulin

  • Phản ứng phụ khi dùng: hạ Glucose máu, dị ứng, rối loạn tiêu hóa, tan máu, mất bạch cầu hạt.

Biến chứng[sửa]

Chữa tiểu đường và ngăn ngừa biến chứng hiệu quả.

Chữa tiểu đường và ngăn ngừa biến chứng hiệu quả.

Đi tiểu nhiều vào đêm, thường xuyên cảm thấy đói bụng, khát nước, sụt cân nhanh, viêm nhiễm chân tay lâu lành, mắt mờ, mệt mỏi … là những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo sự xuất hiện của căn bệnh tiểu đường.

Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những lời khuyên đối với bệnh tiểu đường và những bài thuốc hayrất hữu hiệu cho mẹ và bé.

 

Ban đầu, những triệu chứng này có thể gây cho người bệnh cảm giác khó chịu và phiền phức, nhưng nếu không tìm đến các biện pháp chữa tiểu đường, thì những hậu quả mà căn bệnh này gây ra lại cực kỳ nguy hiểm: cắt cụt tay, chân; liệt, giảm thị lực dẫn đến mù lòa, thậm chí đẫn dến tử vong.

Có 3 loại tiểu đường mà khoa học đã tìm ra là tiểu đường Type 1, tiểu đường Type 2 và tiểu đường thai kỳ. Việc phân biệt và nhận thức rõ ràng đặc điểm của các loại tiểu đường, sẽ giúp rất nhiều cho người bệnh trong quá trình chữa tiểu đường.

Tiểu đường Type 1 (còn được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin ): chiếm từ 5 – 10% tổng số bệnh nhân, thường xảy ra ở trẻ em và những người trẻ dưới 20 tuổi. Ở người bị tiểu đường type 1, tuyến tụy bị tấn công và phá hủy bởi chính cơ thể, làm cho tuyến tụy không còn khả năng sản xuất insulin nữa. Cách chữa tiểu đường Type 1 là người bệnh phải tiêm bổ sung insulin hàng ngày vào cơ thể. Nếu không bệnh nhân có thể lâm vào tình trạng hôn mê sâu và tử vong.

Tiểu đường Type 2 ( tiểu đường không phụ thuộc insulin): chiếm 90 – 95% tổng số bệnh nhân tiểu đường, thường xảy ra với những người lớn tuổi, hoặc những người thừa cân, béo phì. Trong tiểu đường type 2, tụy người bệnh vẫn còn khả năng sản xuất insulin, nhưng không đủ.

Tiểu đường thai kỳ: loại tiểu đường này thường xuất hiện ở phụ nữ có thai. Thông thường, loại tiểu đường thai kỳ sẽ biến mất khi em bé chào đời. Dù vậy, 40-50 % người mắc tiểu đường thai kỳ sẽ bị tiểu đường thật sau này.

 

Ngày nay, cùng sự phát triển của khoa học hiện đại, bệnh tiểu đường Type 1, Type 2 dù chưa thể chữa khỏi, nhưng người bệnh vẫn có thể tìm cho mình những phương pháp chữa trị hiệu quả. Mục đích của những biện pháp chữa tiểu đường hiện nay đều nhằm mục đích giúp người bệnh giảm bớt những gánh nặng căn bệnh này gây ra, đặc biệt là các biến chứng của bệnh như: mất cảm giác ở các đầu ngón tay, ngón chân ( bị thương không có biết đau, sờ vào vật nóng, lạnh không có cảm giác ), nhìn mờ,  dễ bị đục thủy tinh thể có thể dẫn đến mù lòa, dễ bị viêm nhiễm ở chân, tay, các vết thương khó lành…. Cùng với việc tiêm insulin hàng ngày với bệnh nhân tiểu đường Type 1 hoặc uống các loại thuốc đặc trị với bệnh nhân tiểu đường Type 2, một chế độ vận động và ăn uống hợp lý cũng nằm trong liệu trình chữa tiểu đường lâu dài mà các bác sĩ thường đưa ra với người bệnh. Một loại thực phẩm tự nhiên, có giá trị dinh dưỡng cao, đồng thời giúp ngăn ngừa những biến chứng của căn bệnh, hoàn toàn phù hợp với thực đơn ăn kiêng của người tiểu đường là Tảo Mặt trời Spirulina. Đây là một loại thực vật như rau xanh, với giá trị dinh dưỡng cao hơn rất nhiều các loại thực phẩm phổ biến trong bữa ăn hiện nay: hàm lượng đạm thực vật chất lượng cao (là sự tổng hòa của 18 trong tổng số 20 loại axit amin trong tự nhiên, trong đó có 8 loại axit amin mà cơ thể không tự tổng hợp được ), các vitamin A, nhóm B, D, E… và các chất khoáng thiết yếu như sắt, kẽm, magie….

 

Chữa tiểu đường và ngăn ngừa biến chứng hiệu quả - 2

Tảo Mặt trời Spirulina Gold Plus và Tảo Mặt Trời Spirulina Tự nhiên dạng viên

 Hàng ngày, cùng với các loại thuốc chữa tiểu đường, người bệnh có thể uống bổ sung Tảo Mặt trời Gold Plus và Tảo Mặt trời tự nhiên để giảm các cơn đói dày vò đồng thời giảm và ổn định lượng đường trong máu người bệnh, từ đó làm chậm và ngăn ngừa biến chứng không mong muốn xảy đến. Tảo Mặt trời Gold Plus còn được bổ sung thêm khoáng chất Kẽm, một loại khoáng chất rất thiếu trong các bữa cơm hàng ngày của người Việt, đặc biệt càng thiếu đối với người bị tiểu đường, có nhu cầu về kẽm cao hơn những người bình thường. Vì vậy, trong hai tháng đầu uống Tảo Mặt trời, người bệnh nên sử dụng kết hợp 6 viên Tảo Mặt trời Gold Plus vào buổi sáng, 6 viên Tảo Mặt trời tự nhiên vào buổi trưa và 6 viên Tảo Mặt trời Tự nhiên vào buổi tối.

Bệnh tiểu đường cần phải điều trị suốt đời, nên để giúp ổn định căn bệnh về lâu dài, người bệnh nên dùng duy trì 6 viên Tảo mặt trời Gold Plus hoặc 6 viên Tảo Mặt trời tự nhiên để hạn chế thấp nhất những biến chứng có thể xảy ra, tăng cường sức đề kháng, sức khỏe cho người bệnh trong quá trình chữa tiểu đường.

Bác sỹ Vũ Phượng

Tảo Mặt trời Spirulina là loại tảo do công ty Earthrise của Mỹ sản xuất và đóng gói tại California, đây là công ty sản xuất tảo Spiurlina (tảo xoắn) lớn nhất thế giới, với tổng sản lượng tảo hàng năm bằng nửa tổng sản lượng tảo thế giới. Sản phẩm được nhập khẩu và phân phối độc quyền bởi công ty TNHH Ecopath Việt nam. Sản phẩm đã được kiểm duyệt  và đăng ký chất lượng tại Cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm, Bộ Y tế. Số ĐK:2379/2012/ATTP-XNCB; 2380/2012/ATTP-XNCB